Pages

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Kinh Dịch là của người Việt?

Nguồn http://bee.net.vn

Người Trung Hoa đã có 2000 năm để nói Kinh Dịch là của họ, có hơn vài ngàn tác giả với hơn mấy ngàn đầu sách luôn luôn khẳng định điều này khiến nó đã thành một sự thật hiển nhiên khó ai cãi lại được. Nhưng ngày nay đã có những chứng cứ cho chúng ta thấy rằng nguồn gốc của Kinh Dịch không thể tìm thấy ở Trung Hoa, mà Việt Nam mới chính là nơi khai sinh Kinh Dịch.

Mặc dầu những người bày tỏ quan điểm này chỉ đếm được trên đầu ngón tay, quả là “mãnh hổ nan địch quần hồ”, nhưng chân lý không phải là dựa vào số đông.

f
 
Một người làm khoa học chân chính chỉ nên đưa ý kiến phản biện sau khi đã đọc kỹ quan điểm đối lập, cân nhắc chính xác những bằng chứng họ đề ra xem chỗ nào mình đồng ý, chỗ nào không đồng ý, rồi chính mình phải trưng cho được những chứng cứ ngược lại để làm sáng tỏ vấn đề, không nên nói chung chung, nói theo cảm tính. Cho rằng Kinh Dịch là của Trung Quốc hay của Việt Nam là quyền của mỗi người, nhưng muốn bảo vệ niềm tin này phải dựa vào chứng lý.

Người Trung Hoa nói về nguồn gốc Kinh Dịch dựa trên những chứng lý nào?

1/ Trước hết họ cho Phục Hy nhìn những hình đồ trên con long mã vẽ nên bát quái.
Đây là chuyện hoang đường chỉ hợp với những người mê tín, ưa sự huyền hoặc, thế mà cũng được vô số người tin như thật. Nhưng Phục Hy dù là nhân vật huyền thoại vẫn không phải là thủy tổ chính thống của người Hoa hạ.

Phục Hy là tổ của một tộc trong đại chủng Bách Việt phía Nam Trung Quốc, người Hoa mượn làm tổ của mình. Tư Mã Thiên không đồng ý nên đặt Hoàng Đế ở đầu Sử ký. Vậy nếu Phục Hy có làm ra Bát quái cũng không thể nói là của Trung nguyên. Thừa nhận Phục Hy chế ra Kinh Dịch là người Hoa đã nhận Kinh Dịch là của dân Bách Việt, vậy sao cứ nói mãi Kinh Dịch của Trung Hoa và gọi đó là niềm tin chính thống. Hoàng Tông Viêm (16161 0 1686) người ở cuối đời nhà Minh, đầu đời nhà Thanh đã cực lực phủ nhận vai trò của Phục Hy trong Kinh Dịch, sao người Việt Nam vẫn cứ tin!
2/ Sau Phục Hy, người Hoa tin là Văn Vương khi bị Trụ Vương cầm tù ở Dữu Lý đã nâng cấp 8 quẻ thành 64 quẻ và viết quái từ hào từ Kinh Dịch. Người đưa ra thuyết này Tư Mã Thiên, sử gia hàng đầu và uy tín của Trung Quốc. Chính vì Tư Mã Thiên có uy tín nên người ta đã theo đó mà tin không cần kiểm chứng.

Từ Văn Vương đến Tư Mã Thiên cách nhau hơn nghìn năm trung gian có Khổng Tử cách mổi ông chừng 500 năm. Khổng Tử rất tôn sùng Văn Vương, thế mà chưa bao giờ nói với Văn Vương soạn Kinh Dịch. Ở đầu quyền Sử ký, lương tri Tư Mã Thiên còn ray rứt nên chỉ đưa ra giải thuyết “có lẽ Văn Vương diễn Dịch”, nhưng gần cuối sách thì lại xác định hẳn là Văn Vương diễn Dịch, và nhiều người hùa theo đó mà tin.

Kinh Thi là sách đại tụng Văn Vương, kể rất nhiều công tích của văn Vương nhưng không hề đả động đến Kinh Dịch. Các con Văn Vương như Võ Vương, Chu Công dùng bói toán để cúng lễ Văn Vương nhưng chưa bao giờ nói Văn Vương bói Dịch chứ đừng nói đền chuyện Văn Vương soạn dịch.

Chính nhóm Ngô Bá Côn đã xác định điều này: “Từ thời cận đại đến nay, cách nhìn nhận này đã bị các học giả phủ nhận” (Dịch học, Nxb Văn hóa – Thông Tin, Hà Nội, 2003, tr.90). Sách Tả truyện dẫn nhiều câu chuyện bói Dịch nhưng không hề nói Văn Vương soạn Dịch. Các nhà Dịch học Trung Quốc đầu thế kỷ XX đã có người muốn dứt bỏ Văn Vương khỏi vương quốc Kinh Dịch, nhưng có một số người nhiễu sự ưa chuyện huyễn hoặc cứ cố níu kéo Văn Vương, nhất là một số Dịch học người Việt.

3/ Sau khi loại bỏ Phục Hy và Văn Vương, một số nhà Dịch học Trung Quốc lại cho rằng Kinh Dịch có nguồn gốc từ các nhà Vu Hịch là các quan coi việc bói toán (Có Hiệt Cương, Lý Kính Trì), Kinh Dịch có các từ phán đoán giống các từ bói toán: cát, hung, hối lận, cữu, vô cữu, nhiều lời hào trùng hợp với lời bói, nhưng quan điểm này không mấy thuyết phục vì hai cơ cấu Dịch và bói khác nhau, bốc từ là những câu hỏi sẵn đưa ra để hỏi về một vấn đề mà người hỏi thắc mắc, câu trả lời là nhận hoặc phủ nhận, có hay không, còn hào từ phải tùy thuộc vị trí của hào, bản chất của hào, thời của quẻ.

4/ Phát hiện mới nhất là quan điểm của Trương Chính Lương khi cho rằng nguồn gốc của quẻ Dịch đến từ quẻ số khắc trên Giáp Cốt Văn và Kim Văn. Nhóm Chu Bá Côn cũng đã có ý kiến về vấn đề này “Song dùng các chữ số trong phép bói cỏ như 1,5,6,7,8 … không đủ chứng cứ để chứng minh tại sao trong Kinh Dịch lại chỉ có 8 kinh quái và 64 biiệt quái” (Dịch học, tr.63).

Sau cùng nhóm Chu Bá Côn kết luận: “Tóm lại, đối với việc tìm hiểu nguồn gốc của quái, hào, tượng tuy đã có một số ý kiến có ảnh hưởng nhất định trong mấy năm gần đây, nhưng những điều được đề cập tới đầu không ngoài loại tượng và số, vẫn chưa thể nói là đã có một đáp án được gọi là công nhận. Có lẽ trong tương lai gần, theo đà phát hiện tư liệu ngày càng nhiều, chúng ta sẽ có được một đáp án xác đáng.” (Dịch học, tr.63). Còn Vương Ngọc Đức thì bi quan hơn: “Cuộc tranh luận kéo dài hai ngàn năm vẫn không có câu giải đáp chính xác. Nếu vẫn theo phương thức tư duy của các học giả thời xưa, thì hai ngàn năm nữa vẫn chưa làm rõ được vấn đề". (Bí ẩn của Bát Quái – Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội. 1996, tr.27).

Như vậy, đối với vấn nạn nguồn gốc Kinh Dịch, các học giả Trung Quốc đành chịu “bó tay” không truy vấn được. Vậy thì người Việt Nam hà cớ gì cứ đi theo họ để xác nhận một điều họ đã phủ nhận, cứ trân trọng mãi cái họ đã ném đi.

Vậy để xác định Kinh Dịch có nguồn gốc từ Việt Nam, chúng ta có những chứng cứ gì?

Năm 1970, Giáo sư Kim Định đã tuyên bố “Kinh Dịch là của Việt Nam” trong tác phẩm Dịch Kinh linh thế, tiếp sau đã có nhiều người mạnh dạn đề xuất những chứng cứ như Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Trần Quang Bình, Hà Văn Thùy, Nguyễn Quang Nhật, Nguyễn Việt Nho, Trúc Lâm …

Riêng cá nhân tôi từ năm 1999, đến nay, tôi đã trình với công luận những chứng cứ khả dĩ chứng minh được Kinh Dịch là di sản của tổ tiên Việt Nam qua mấy điểm sau:

Căn cứ vào những hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn thì Việt tộc đã ghi khắc những quẻ Dịch trước Trung Quốc và sớm hơn chứng liệu của Trung Quốc (xin xem Phát hiện Kinh Dịch thời đại Hùng Vương – Thanhnienonline).

Chứng liệu của Việt tộc trực tiếp từ tượng quẻ không phải qua suy luận từ số đến tượng như Trung Quốc. Có đầy đủ 8 quẻ đơn và một số quẻ kép trên đồ đồng Đông Sơn. Những quẻ này có thể đọc thành văn bản phản ánh tư tưởng quốc gia Văn Lang (Sứ giả Văn Lang – Anviettoancau.net).

Quẻ Dịch trên đồ Phùng Nguyên và Đông Sơn chứng tỏ hào dương vạch liền và hào âm vạch đứt của Trung Quốc là biến thể của hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm của Việt Nam, Trung Quốc đã nối những chấm âm lại thành vạch đứt để vạch cho nhanh (cải biên) (Chiếc gậy thần – dạng thức nguyên thủy của hào âm dương – thanhnienonline).

Các từ Dịch/Diệc, Hào, Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Khảm, Ly, Tốn, Đoài chỉ là từ ký âm tiếng Việt (Bàn về tên gọi tám quẻ cơ bản của Kinh Dịch – Dunglac.net).

Quan trọng nhất theo tiêu chuẩn tam tài của Trung Quốc chỉ sử dụng Tiên Thiên đồ, Hậu Thiên đồ mà không có Trung Thiên Đồ, một đồ cốt yếu đã được tổ tiên Việt Tộc sử dụng đễ viết quái, hào từ Kinh Dịch. Đồ này được tổ tiên Việt tộc giấu trong truyền thuyết, trên trống đồng, nên có thể khẳng định Trung Quốc không thể nào là người khai sinh Kinh Dịch cũng như phân bố vị trí các quẻ. (Trung Quốc đã công bố hơn 4000 Dịch đồ nhưng không có đồ nào phù hợp với Trung Thiên Đồ) (Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam – Thanhnienonline)

Truyền thuyết Việt Nam một phần là những câu chuyện liên hệ với Kinh Dịch, như chuyện Con Rồng cháu tiên là chuyện của Trung thiên Đồ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là chuyển kể lại từ những lời hảo quẻ Mông, người Trung Hoa chỉ cần thay đổi bộ thủy trong hai chữ “chất cốc” là đổi câu chuyện nói về lũ lụt thành chuyện dạy trẻ mông muội là xóa được gốc tích của Kinh. Truyền thuyết được lưu giữ chính là để báo tồn Kinh Dịch (Các bài trên Anviettoancau.net – cùng tác giả).

Trong một bài báo ngắn, chúng tôi không thể trình bày hết mọi chứng cứ nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ để hy vọng các bậc đại thức giả Việt Nam nên xét lại vấn đề, cân nhắc phân minh trả lại sự công bằng cho tổ tiên. Thái độ thờ ơ của quí vị chỉ làm tăng thêm nỗi đắng cay chua xót của liệt tổ ở chốn u linh. Xin hãy chung tay làm sáng tỏ huyền án này.

Theo Nguyễn Thiếu Dũng (Tạp chí Xưa & Nay)

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2011

14/3–Ngày oanh liệt của hải quân Việt Nam

Ngày 14/3/1988 – TQ đã nổ súng xâm lược các đảo Cô lin , Gạc ma và Len đao của Việt Nam . Giết chết 64 chiến sĩ hải quân . Tuy các anh đã hi sinh nhưng các anh vẫn sống mãi với hồn Tổ Quốc . Nhất định có một ngày chúng ta sẽ lấy lại Hoàng Sa – Trường Sa để các anh ngậm cười nơi chính suối . Chúng ta – thế hệ trẻ Việt Nam nhất định phải nhớ lấy điều này .

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011

Tình yêu bắt đầu từ Trường Sa

Nguồn vietnamnet.vn

 

Một cuộc điện thoại nhầm số đã khởi đầu mối tình đẹp và lãng mạn của đôi vợ chồng Kim Thanh Hoa, Chủ tịch UBND xã Sinh Tồn, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa và Nguyễn Thị Duyên, cô công nhân Hải Dương.
Mối tình có một không hai ấy đã làm cho bao người đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đến hôm nay, Duyên đã quen với cuộc sống làm dâu ở xã Sông Cầu, huyện miền núi Khánh Vĩnh, cách nhà mẹ đẻ của cô gần 1.500 km.
Tình cờ nên duyên
Chuyện tình của Duyên với người chồng Kim Thanh Hoa ở tận Trường Sa bắt đầu vào một ngày tháng 6/2008. Khi ấy, cô công nhân quê ở Hải Dương đã vội vàng tắt máy khi phát hiện mình bấm nhầm vào số điện thoại của một ai đó. Không ngờ, người nhận cuộc gọi bất đắc dĩ kia gọi lại. Rồi những cuộc trò chuyện “xa, gần” qua điện thoại, cô dần biết người ấy tên là Kim Thanh Hoa. Anh tự giới thiệu mình đang làm việc ở Đảo Sinh Tồn - Trường Sa.
Lúc đầu, Duyên còn nửa tin nửa ngờ, nhưng một thời gian cô tin thật, bởi “chỉ có người ở Trường Sa, mới quý người đến thế”. Hai tháng sau, Duyên gửi cho Hoa tấm hình chân dung của mình và cộng thêm hai tháng nữa, tấm hình ấy mới ra đến đảo. Tình yêu của họ được nảy sinh từ đó, dù cho hai người chưa từng một lần gặp mặt.
Chị Duyên tâm sự: “Tuy không biết mặt anh ấy nhưng nghe qua giọng nói, em đoán anh là người hiền lành, chu đáo. Tình nguyện ra công tác tại Trường Sa, chắc chắn anh ấy rất bản lĩnh”. Còn riêng Thanh Hoa, biết người yêu làm công nhân từ sáng sớm đến tối mới về, anh tranh thủ gọi cho Duyên vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối, kể cho cô nghe rất nhiều chuyện về cuộc sống của anh, của dân và quân trên đảo Sinh Tồn.

Một cái bấm nhầm điện thoại đã xây nên mối tình vừa đẹp.

 

Tết 2008, anh Hoa được về phép thăm gia đình ở Khánh Vĩnh. Anh nói với Duyên: “Anh sẽ ra thăm em”. Yêu Hoa thật, nhưng Duyên không tin chuyện người con trai chưa từng gặp mặt có thể vượt hàng nghìn cây số ra thăm mình nên đùa: “Anh mà ra thì em sẽ tình nguyện theo anh vào Khánh Vĩnh làm rẫy…”. Mồng 6 tết, Hoa xin phép bố mẹ đón tàu ra Bắc.
Cưới vợ kiểu… Trường Sa
Vừa gặp mặt một ngày, hai bạn trẻ quyết định cưới nhau. Duyên tâm sự: “Nói chuyện qua điện thoại đã yêu, nay gặp nhau, biết anh ấy vất vả em càng yêu hơn. Nơi đảo xa, anh chỉ về phép được 15 ngày. Hiểu công việc của anh nên phải cưới ngay. Gia đình em quá bất ngờ, đã phản đối kịch liệt, nhưng biết không cản được con gái nên chấp nhận”.
Tuy cũng bất ngờ không kém ông bà thông gia, nhưng ông Kim Thanh Nghị, bố anh Hoa tỏ ra thông cảm với con trai: “Hoa là đứa có cá tính, sau khi học xong ngành Công nghệ thông tin - ĐHQG TP HCM, Hoa đã tham gia đoàn thanh niên tình nguyện miền núi ở Cam Ranh, rồi tình nguyện ra tận đảo Sinh Tồn. Tôi tôn trọng quyết định của nó, bởi nó là con trai mà. Khi biết nó vừa ra đã nhất quyết lấy vợ, tôi chấp nhận luôn, quan trọng chúng thương yêu nhau”.

Chị Duyên cùng quán hàng nhà chồng.

 

Hai họ "vắt chân lên cổ" để lo đám cưới cho đôi bạn trẻ. Không kịp ra nhà gái ở Hải Dương, ông Nghị đành nhờ người anh trai ở Tuyên Quang thay mặt nhà trai xuống gặp mặt nhà gái. Rồi cô dâu theo chú rể vào Khánh Vĩnh.
Cưới được 20 ngày, anh Hoa nhận lệnh trở lại xã đảo Sinh Tồn. Duyên ở lại nhà chồng. Bố mẹ chồng giúp con dâu mới mở một quán nước ven đường đặt quán tên là Thanh Hoa để thể hiện rằng anh luôn ở bên cô. Duyên tâm sự: “Anh ấy ra đảo em nhớ lắm và cũng hơi lo vì hôm chia tay, anh ấy hơi mệt. Nhưng em vẫn luôn tin rằng anh ấy và những người bạn của anh sẽ vượt qua”.

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

MÁU VẪN ĐỔ Ở TRƯỜNG SA

Đó là sự thật. Những năm hòa bình của thế kỷ 21 này, vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa. Họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con, thậm chí. Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng. Một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội, một số đang nằm dưới lòng biển sâu cùng với những cha, anh của họ, đã hy sinh cuộc chiến đấu với lính Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma (ngày 14-3-1988). Họ là các cán bộ chiến sĩ của Lữ đoàn 146 (Đoàn Trường Sa), Vùng 4 Hải quân và Lữ đoàn 171, Vùng 2 Hải quân...

Liệt sỹ Hoàng Đặng Hùng, sinh 1984, hy sinh năm 2004 khi mới tròn 20 tuổi. Hùng quê ở Hải Phòng, bố mẹ vẫn đang công tác trong Quân đội. Từ khi hy sinh ở đảo chìm, Hùng được đưa về nằm tại đảo Nam Yết và mỗi năm 1 lần, mẹ của Hùng (cũng đang công tác tại Quân chủng Hải quân) lại từ Hải Phòng vào Cam Ranh, đợi có tàu ra đảo tiếp tế, xin đi nhờ ra thăm phần mộ của con. Mỗi lần ra, bà thường ngồi bên mộ cả ngày để thì thầm nói chuyện với con trai.

Viếng mộ Liệt sĩ Nguyễn Văn Hà (Nghệ An) và Hoàng Đặng Hùng (HP) trên đảo Nam Yết

Chiến sỹ Quách Hoàng Lâm, sinh năm 1984, hy sinh năm 2006. Lâm quê ở Quận 11, TP. Hồ Chí Minh và hiện vẫn đang nằm ở đảo Trường Sa Đông

Liệt sĩ Nguyễn Văn Thi, sinh ngày 15-4-1975, hy sinh ngày 14-4-2001, quê quán: Hoàng Minh, Hoàng Hóa, Thanh Hóa. Chiến sĩ báo vụ Nguyễn Văn Thi hy sinh trong khi bơi ra dòng xoáy, cứu chiếc xuồng của đảo bị đứt dây. Do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đồng đội chỉ biết bất lực nhìn Thi cận kề bên cái chết. Thi hy sinh khi chỉ còn 13 tiếng đồng hồ nữa là tròn 26 tuổi.

Phần mộ Liệt sĩ Vương Viết Mão, sinh ngày 3-9-1975, hy sinh ngày 17-1-2004, quê quán: Diễn Lâm, Diễn Châu, Nghệ An

Mộ của 3 Liệt sĩ: Lâm, Thi, Mão nằm thẳng hàng bên cầu tàu đảo Trường Sa Đông

Phần mộ Hạ sĩ Đỗ Khánh Hưng, quê Gia Lộc, Hải Dương trên đảo Sơn Ca

Chuẩn bị vòng hoa, mâm quả để làm lễ tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam hy sinh trong khi bảo vệ đảo Cô Lin - Gạc Ma, ngày 14-3-1988. Vùng biển này rất thiêng và đặc biệt là yên ả khi tàu của ta đến neo đậu. Mỗi con tàu của ta khi đến đây làm nhiệm vụ, đều thắp hương trên khoang lái, buồng chỉ huy suốt 24/24 giờ.

Vùng biển Cô Lin - Gạc Ma: Nghĩa trang dưới lòng biển Trường Sa

Lễ dâng hương và tưởng niệm các Liệt sĩ tại vùng biển Cô Lin - Gạc Ma. Trong buổi lễ, đại diện quân chủng Hải quân tuyên bố thẳng "Các cán bộ, chiến sĩ hy sinh bởi hỏa lực và sự tấn công của lính Trung Quốc" và khẳng định "Cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong khi bảo vệ chủ quyền biển đảo" chứ không lấp lửng, úp mở "đối phương, tàu nước ngoài"...

Làm lễ tưởng niệm và truy điệu những cán bộ chiến sĩ hy sinh trong khi bảo vệ chủ quyền tại DK1. Các đồng chí ở trong nhà giàn DK1 để bảo vệ thềm lục địa phía Nam, không cho tàu Trung Quốc và mấy thằng gần bên đến thăm dò dầu khí, đánh cá... Khu vực này, địa chất không như Trường Sa nên chẳng bói đâu ra đảo mà làm nhà. Đành phải đóng cọc thép dưới lòng biển và dựng nhà phía trên như kiểu... chòi canh. Mỗi khi sóng to, gió lớn, các lính ta phải di chuyển ra tàu trực kẻo nhà giàn bị sụp đổ. Từ 1989 đến nay, đã có một số nhà giàn sụp đổ do bão gió, khiến 9 cán bộ chiến sĩ đóng quân trên nhà giàn hy sinh, không tìm thấy xác

Nơi nhà giàn cũ đổ xuống, mang theo toàn bộ cán bộ, chiến sĩ đóng quân ở trên, hiện ta đã xây lại nhà giàn mới. Trong khi tàu làm lễ tưởng niệm, các cán bộ chiến sĩ đóng trên nhà giàn cũng tập trung lên nóc nhà cùng tưởng niệm các đồng đội đang nằm dưới lòng biển.

Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa

Danh sách các Anh hùng, Sĩ quan và những chiến sĩ hy sinh từ 1975-1983

Hy sinh thời điểm 2005-2008 và đặc biệt là 64 chiến sĩ hy sinh trong ngày 14-3-1988

Đến con số chưa phải là cuối cùng: 131 cán bộ - chiến sĩ

 

Nguồn Blog Maithanhhai

Bảo vệ chủ quyền cần tiếng nói toàn dân

- Việc Trung Quốc tập trận ở vùng biển đang tranh chấp chủ quyền trong khi các bên liên quan nỗ lực tìm kiếm giải pháp hoà bình là một hành động không xứng với vai trò và vị thế nước lớn của Trung Quốc; về phía mình, Việt Nam cần lên tiếng mạnh mẽ hơn, ý kiến của độc giả VietNamNet.

Việt Nam có đầy đủ bằng chứng cả về lịch sử lẫn pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông - động thái diễn tập quân sự của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Trường Sa là sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

“Trong khi những nỗ lực ngoại giao không chỉ của Việt Nam và Trung Quốc mà còn của các nước liên quan trong ASEAN chưa đưa lại những kết quả cụ thể thì động thái này chỉ làm phức tạp thêm tình hình, không có lợi cho bất cứ bên nào” là ý kiến của độc giả Hoàng Hoa (hoa.hoang@...).

Độc giả tin rằng mỗi người dân Việt Nam đều tha thiết với chủ quyền của Tổ quốc và không mong gì hơn là hòa bình lâu dài. Ảnh: HLong
“Điều cần nhất là các bên liên quan trong vấn đề Biển Đông phải tôn trọng những điều ASEAN và Trung Quốc đã thống nhất trong Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được ký năm 2002. Đặc biệt là Trung Quốc, một quốc gia mạnh về kinh tế, quân sự và có tiếng nói có trọng lượng trong các vấn đề quốc tế. Nghiêm túc, có trách nhiệm và xây dựng, đó là thái độ cần có trong việc giải quyết bất cứ tranh chấp nào, nếu không các bên sẽ đẩy nhau đến những nguy cơ không kiểm soát được về an ninh, điều mà không ai muốn”, độc giả này phân tích.

Độc giả Phan Thành Hưng (hungit@...) thì liên hệ đến việc “gần đây Trung Quốc liên tục tỏ rõ tham vọng trở thành một cường quốc về quân sự khi gia tăng ngân sách quốc phòng lên đến 12,7%, điều đang khiến các nước láng giềng không khỏi lo lắng”.

“Một quốc gia khi có điều kiện về kinh tế muốn củng cố quốc phòng nhằm đảm bảo an ninh và bảo vệ đất nước hiệu quả hơn là điều đáng hoan nghênh, song nếu quốc gia này sử dụng tiềm lực quốc phòng của mình để đe dọa an ninh và chủ quyền của các quốc gia khác, điều đó là không thể chấp nhận”, độc giả Hưng viết.

Trong khi, với địa chính trị và vai trò của mình đối với khu vực, Trung Quốc có trách nhiệm rất lớn trong việc đảm bảo hòa bình tại khu vực. “Chính phủ Trung Quốc luôn nhấn mạnh ‘sự trỗi dậy hoà bình’, hẳn họ không muốn thay vì trở thành ‘tấm gương’ cho các nước trong khu vực, họ lại trở thành ‘ngáo ộp’ khiến các láng giềng lớn nhỏ đều phải dè chừng. Nước lớn thì hành động phải quang minh chính đại như người quân tử”, độc giả này phân tích.

Hòa bình sẽ có lợi cho tất cả

Đông Nam Á đang là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới, các nước trong khu vực đều đang nỗ lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân, Trung Quốc cũng không phải ngoại lệ. “Có đáng không nếu những quan ngại về an ninh, quốc phòng, quân sự khiến các bên bị ‘trật bánh’ trên đường ray kinh tế, không đạt được những mục tiêu thiết thực hơn?”, độc giả doquangvinh (vinhdo@...) đặt câu hỏi.

“Bản thân Trung Quốc cũng phải đối mặt không ít với nhiều vấn đề nội bộ: khoảng cách giàu nghèo, môi trường ô nhiễm, tham nhũng tràn lan, dẫn đến nhiều bất bình và mâu thuẫn lớn trong xã hội… Không giải quyết những vấn đề đó thấu đáo, Trung Quốc không thể đảm bảo tăng trưởng bền vững”, độc giả này viết.

Đó cũng là những vấn đề mà Việt Nam và các nước ASEAN đang phải đối mặt ở những mức độ khác nhau và đều phải tập trung giải quyết. Căng thẳng và bất ổn sẽ chẳng có lợi cho ai, và mong ước thịnh vượng của các bên đều sẽ bị đe dọa.

Bảo vệ chủ quyền cần tiếng nói đồng thuận

Dù Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền không thể chối cãi đối với Hoàng Sa, Trường Sa và phản ứng trước những động thái vô lý của Trung Quốc, nhưng nếu việc này chỉ dừng lại ở cấp độ ngoại giao thì chưa đủ. Nếu đã coi trọng “ngoại giao nhân dân”, hãy để người dân được tham gia bảo vệ chủ quyền.

Độc giả dohongviet9@... cho rằng cần phải “tuyên truyền những thông tin và bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của ta nhiều hơn nữa, trên tất cả các phương tiên truyền thông, cả trong nước và nước ngoài, để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế”.

Đồng thời, như ý kiến của độc giả dxcanh1@..., “mỗi người dân Việt Nam đều phải có trách nhiệm lên tiếng phản đối sự việc này”. “Hãy góp tiếng nói của mình trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc”.

"Tôi tin rằng mỗi người dân Việt Nam đều tha thiết với chủ quyền của Tổ quốc, và cũng không mong gì hơn là hòa bình lâu dài để đất nước phát triển thịnh vượng. Hãy tạo điều kiện và ủng hộ họ góp sức mình trong việc truyền đi thông điệp đó đến thế giới", là chia sẻ của độc giả Vũ Nhân (myvietnam@...). "Những tiếng nói đơn lẻ nhưng đồng thuận sẽ hòa giọng thành một tiếng nói mạnh mẽ, không ai có thể lờ đi không nghe", độc giả này khẳng định.

Thủy Chung

Nguồn vietnamnet.vn

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Toan tính của Trung Quốc ở Biển Đông

Nguồn vietnamnet.vn

Theo TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ, một loạt những động thái gần đây của Trung Quốc liên quan đến Biển Đông không phải ngẫu nhiên, bộc phát mà được tính toán, có sự phối hợp về mặt quân sự, dân sự, tuyên truyền, pháp lí, có mục đích cụ thể, nhất là trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay.

Từng làm công tác đàm phán biên giới nhiều năm và tham gia các hội thảo quốc tế về Biển Đông thời gian qua, ông Trần Công Trục cũng khuyến nghị đối sách cho Việt Nam, bên tham gia tranh chấp chủ quyền tại vùng biển này.

>> Sự thật về sự kiện Hoàng Sa 1974
>> Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Hoàng Sa
>> Việt Nam phản đối Trung Quốc tập trận ở Trường Sa

Một loạt những hành động có tính toán

Mới đây mạng thông tin Trung Quốc có nói về sự kiện Hoàng Sa năm 1974 và nói rằng đây là phản ứng tự vệ của quân dân Trung Quốc đối với vùng đất có chủ quyền của Trung Quốc. Ông đánh giá như thế nào về động thái này từ phía Trung Quốc?

Động thái nói trên của Trung Quốc không có gì mới. Chúng ta đã từng được nghe khá nhiều lần những thông tin tương tự  trước khi Trung Quốc dùng sức mạnh để gây ra các sự kiện tranh chấp trên các vùng biên giới và  trên biển. Vấn đề chúng ta cần xem xét, tìm hiểu là tại sao trong thời điểm hiện nay, họ lại nhắc lại luận điểm này?

Trong thời gian gần đây cùng với luận điểm đó, Trung Quốc gia tăng nhiều hoạt động liên quan đến Biển Đông. Chẳng hạn, họ chuẩn bị khởi động một siêu dự án mang tên "Vùng sâu Biển Đông", nghiên cứu, khám phá Biển Đông,  tiến hành các hoạt động ngăn chặn bắt bớ, cản trở gây nhiều khó khăn với tàu thuyền VN đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam, tiếp tục tiến hành xây dựng, củng cố các vị trí họ đã chiếm đóng trên khu vực quần đảo Hoàng Sa, kể cả Trường Sa, đặc biệt tích cực vận động, kêu gọi các công ty nước ngoài đầu tư khai thác dầu khí trong các khu vực biển, thềm lục địa của Việt Nam và của các nước khác trong khu vực.

Tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc chặn đường tàu VN trên đường ra Hoàng Sa. Ảnh tư liệu

Trên mặt trận tuyên truyền, pháp lí, Trung Quốc lại tung ra bản đồ trực tuyến vẽ đường biên giới biển hình lưỡi bò để một lần nữa hợp thức hóa đường  "lưỡi bò" phi lý đã bị cộng đồng quốc tế phê phán, bác bỏ.

Rõ ràng, đây là một loạt các hoạt động được tính toán, có sự phối hợp về mặt quân sự, dân sự, tuyên truyền, pháp lí. Những hoạt động này không phải là ngẫu nhiên, bộc phát mà đều có mục đích cụ thể, nhất là trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động phức tạp hiện nay.

Quá trình chiếm đóng bằng vũ lực

Vì sao ông lại cho rằng đây là những hành động có tính toán cụ thể?

Để trả lời câu hỏi này, theo tôi, ta nên quay lại các mốc thời gian lịch sử có liên quan đến quá trình Trung Quốc tiến hành xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Viêt Nam.

Năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc nhảy vào tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, lúc đó đang nằm dưới sự quản lý của chính quyền thực dân Pháp, với danh nghĩa là đại diện cho nhà nước Việt Nam về mặt đối ngoại, bằng  hành động của viên đô đốc Lý Chuẩn, theo lệnh của Tổng đốc Lưỡng Quảng, đưa vài ba pháo thuyền ra khu vực Hoàng Sa bắn pháo, đổ bộ lên vài đảo, rồi nhanh chóng lặng lẽ rút lui.

Năm 1946, lợi dụng việc giải giới quân Nhật theo sự ủy thác của Đồng Minh, Chính quyền Quốc dân Đảng đã đưa tàu chiến ra chiếm đóng một số đảo thuộc hai quần đảo này. Tàu chiến mang tên Thái Bình của Quốc dân đảng đã đổ quân lên chiếm đóng đảo Ba Bình của Việt Nam mà người phương Tây gọi là Itu Aba,  để rồi từ đó hòn đảo này được gán ghép cho một tên mới "Thái Bình đảo" theo đúng cách thức truyền thống của Trung Quốc.

Năm 1956, hai năm sau khi Hiệp định Gieneve được ký kết, trong thời điểm chuyển quân và chuyển giao quyền quản lý giữa các lực lượng và chính quyền của hai miền Nam Bắc Việt Nam theo Hiệp định Gieneve lấy vỹ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời. Lợi dụng tình hình quân đội Pháp buộc phải rút quân, quân đội của chính quyền Nam Việt Nam chưa đủ sức tiếp quản hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa, thực hiện một bước tiến quan trọng của họ xuống khu vực Biển Đông.

Trước tình hình đó, Chính quyền Sài Gòn đã đưa quân ra đóng giữ nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa và với tư cách là người quản lý hợp pháp phạm vi lãnh thổ từ vỹ tuyến 17 trở vào, chính quyền Sài Gòn đã chính thức phản đối hành động xâm chiếm trái phép của Trung Quốc nhóm phía Đông Hoàng Sa, đồng thời tiến hành các hoạt động ngoại giao, pháp lý để thực hiện và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ảnh: VietNamNet

Năm 1959, Trung Quốc lại tiếp tục huy động lực lượng quân sự giả dạng tàu đánh cá mon men nhòm ngó xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa nhưng không thành. Quân đội của Việt Nam Cộng Hòa, với sự trợ giúp trực tiếp của Hoa Kỳ, toàn bộ tàu "đánh cá " của Trung Quốc đã bị tóm gọn và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng.

Đến đầu những năm 1970, trước những diễn biến quan trọng về quân sự, chính trị... đang diễn ra tại Việt Nam, Trung Quốc  lại tiếp tục có những hoạt động để chuẩn bị cho cuộc chiếm đóng mới bằng quân sự. Lợi dụng bối cảnh chính trị lúc bấy giờ, trong tình thế xuống dốc của chính quyền miền Nam và sự rút lui của Hoa Kỳ, ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã điều 11 tàu chiến với sự yểm trợ của máy bay tới xâm chiếm nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Sài Gòn đã huy động 4 chiến hạm ra chống trả nhưng tương quan lực lượng quá chênh lệch nên cuối cùng, nhóm đảo này đã rơi vào tay Trung Quốc. Trung Quốc đã hoàn thành việc xâm chiếm bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào thời điểm trước khi miền Nam Việt Nam được giải phóng.

Năm 1988, Trung Quốc lại đưa quân xuống khu vực quần đảo Trường Sa, dùng tàu chở các phương tiện, gạch ngói, xi măng đổ lên một số  bãi cạn, biến các bãi cạn này thành các căn cứ quân sự, ngang nhiên khiêu khích và  gây ra cuộc đụng độ với Hải quân Việt Nam cũng trong bối cảnh có những khó khăn về kinh tế mà Việt Nam phải đương đầu và tình hình chính trị quốc tế có những diễn biến phức tạp bất lợi cho Việt Nam tại thời điểm đó.

Năm 1995, Trung Quốc lại  tiếp tục dùng sức mạnh đánh chiếm đảo Vành Khăn, một đảo đá nằm phía tây nam Trường Sa.

Phải chăng, Trung Quốc có hàng loạt những động thái kể trên vì bối cảnh quốc tế đang thuận lợi cho họ khi các nước lớn và ASEAN đang bận tậm với những vấn đề khác?

Bài học của lịch sử nhân loại cho thấy rõ những cuộc xung đột, xâm chiếm thường xảy ra khi kẻ xâm lược  biết cách khai thác và tận dụng cơ hội.  Phải chăng bối cảnh và tình hình quốc tế hiện nay có thể sẽ là cơ hội để cho nhưng âm mưu muốn biến Biển Đông trở thành ao nhà của mình trở thành hiện thực?

Tuy nhiên, tôi cho rằng, Biển Đông là khu vực vô cùng quan trọng và có mối liên quan mật thiết đến hoà bình, an ninh và ổn định ở châu Á - Thái Bình Dương, một địa bàn chiến lược đối với nhiều cường quốc.

Bởi vậy, người ta không bao giờ có thể quên những vấn đề tiềm ẩn ở khu vực Biển Đông, nơi tranh chấp phức tạp, nhạy cảm  trong thế cân bằng cán cân lực lượng thế giới. Chắc chắn các chính khách, các chiến lược gia, giới quân sự của các nước có liên quan đều đã phải tính đến để có những đối sách thích hợp.

Đối sách cho Việt Nam

Vậy theo ông, trước những diễn tiến đó, Việt Nam cần phải có đối sách như thế nào?

Việc họ có thực hiện được tham vọng độc chiếm Biển Đông hay không còn là một vấn đề và còn phụ thuộc vao nhiều yếu tố.

Tôi cho rằng, yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của chúng ta trên Biển Đông trong bối cảnh hiện nay chính là sức mạnh của sự đại đoàn kết của  dân tộc Việt Nam. Nếu như nội bộ chúng ta  không đồng lòng, không nhất trí, thiếu sự quan tâm cần thiết đến chủ quyền biển đảo và không tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế thì sẽ là yếu tố tạo cơ hội cho những mưu toan xâm lược sẽ được thực hiện. Bài học lịch sử đã cho thấy điều này.

Tôi tin rằng người Việt Nam, dù đang sống  ở đâu, đều luôn luôn hướng về Đất Nước và sẵn sàng đóng góp tinh thần lẫn vật chất để bảo vệ từng tấc đất Tổ Quốc. Chúng ta phải tìm mọi cách giữ gìn và phát huy được sức mạnh vô song này.

Chúng ta phải triển khai mạnh mẽ và kịp thời cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam bằng sự phối hợp một cách chủ động, chặt chẽ, liên tục trên các mặt quân sự, ngoại giao, pháp lý, tuyên truyền... Đặc biệt, cần phải tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế, dù đó là cá nhân hay tổ chức, của các quốc gia, dù là nhỏ hay lớn... như những gì mà thời gian qua chúng ta đã làm và đã thu được những kết quả đáng kể trong các hoạt động ngoại giao của mình.

 
BACK TO TOP